BÀI 3. PHẦN MỀM NGUỒN MỞ VÀ PHẦN MỀM CHẠY TRÊN INTERNET
1. PHẦN MỀM NGUỒN MỞ
a) Phân loại phần mềm theo cách chuyển giao sử dụng
- Phần mềm thương mại là phần mềm được tạo ra để bán, thường bị khóa kín mã nguồn (nguồn đóng) để bảo vệ bản quyền và ý tưởng của người viết.
+ Ví dụ: Thầy cô và học sinh phải bỏ tiền ra mua bản quyền phần mềm Microsoft Word thì mới có đầy đủ chức năng để soạn thảo văn bản lâu dài.
- Phần mềm tự do là phần mềm cho phép người dùng sử dụng hoàn toàn miễn phí mà không cần xin phép ai, có thể là phần mềm nguồn đóng hoặc nguồn mở.
+ Ví dụ: Học sinh có thể lên mạng tải phần mềm Acrobat Reader về máy tính để đọc các file PDF bài tập một cách miễn phí mà không vi phạm luật.
- Phần mềm nguồn mở là phần mềm cung cấp công khai toàn bộ mã nguồn bên trong, cho phép bất kì ai cũng có thể xem, tự sửa đổi, cải tiến và chia sẻ lại cho người khác.
+ Ví dụ: Ngôn ngữ lập trình Python mở toàn bộ mã nguồn để hàng triệu lập trình viên trên thế giới cùng vào sửa lỗi và bổ sung thêm các tính năng mới mỗi ngày.
b) Giấy phép đối với phần mềm nguồn mở
- Giấy phép phần mềm nguồn mở được sinh ra để bảo vệ tác giả gốc (miễn trừ trách nhiệm bảo hành) và cấp cho người dùng những quyền mà luật bản quyền bình thường hay cấm (như quyền sao chép, chỉnh sửa).
+ Ví dụ: Giấy phép quy định rõ, nếu học sinh dùng một phần mềm nguồn mở mà chẳng may phần mềm đó bị lỗi làm mất dữ liệu máy tính, thì người tạo ra phần mềm đó không phải đền tiền.
- Người dùng có quyền chỉnh sửa, nâng cấp và phát hành lại phần mềm nguồn mở nhưng bắt buộc phải ghi rõ những gì mình đã sửa và tiếp tục mở mã nguồn của bản mới đó.
+ Ví dụ: Nếu học sinh lấy mã nguồn của phần mềm vẽ GIMP về, chế tác lại thành một phần mềm mới có giao diện màu hồng, thì học sinh phải ghi chú rõ mình đã đổi màu giao diện và bắt buộc phải công khai mã nguồn của bản màu hồng đó cho mọi người.
2. VAI TRÒ CỦA PHẦN MỀM THƯƠNG MẠI VÀ PHẦN MỀM NGUỒN MỞ
- Phần mềm thương mại là nguồn thu nhập chính để nuôi sống các công ty công nghệ, bao gồm phần mềm "đặt hàng" (phục vụ nhu cầu riêng) và phần mềm "đóng gói" (phục vụ nhu cầu chung).
+ Ví dụ: Một bệnh viện trả tiền để công ty tin học viết riêng một phần mềm "đặt hàng" chuyên dùng để quản lí hồ sơ bệnh án của họ, phần mềm này sẽ được bảo hành tận nơi.
- Điểm yếu của phần mềm thương mại là khiến người dùng bị phụ thuộc hoàn toàn vào công ty cung cấp về mặt giải pháp và kĩ thuật.
+ Ví dụ: Khi phần mềm Photoshop bị lỗi không lưu được ảnh, người dùng chỉ có cách ngồi chờ hãng Adobe tung ra bản cập nhật sửa lỗi chứ không thể tự mở mã nguồn ra sửa.
- Phần mềm nguồn mở có vai trò mang đến cho cộng đồng những giải pháp phần mềm chất lượng tốt, minh bạch, chi phí thấp và thay thế được rất nhiều phần mềm thương mại đắt đỏ.
+ Ví dụ: Thay vì tốn rất nhiều tiền mua hệ điều hành Windows cho toàn bộ máy tính của trường, nhà trường có thể cài đặt hệ điều hành nguồn mở Linux hoàn toàn miễn phí mà vẫn đáp ứng đủ nhu cầu học tập.
3. PHẦN MỀM CHẠY TRÊN INTERNET
- Phần mềm chạy trên Internet (hay phần mềm trực tuyến) là các phần mềm cho phép người dùng sử dụng trực tiếp qua trình duyệt web mà không cần phải tải hay cài đặt vào máy tính.
+ Ví dụ: Học sinh không cần cài đặt Facebook hay Gmail vào máy tính, chỉ cần mở trình duyệt web lên và đăng nhập là có thể nhắn tin, gửi thư ngay.
- Ưu điểm lớn nhất của các phần mềm này là tính linh hoạt, có thể sử dụng ở bất cứ đâu, trên bất kì thiết bị nào miễn là có mạng Internet, và thường có chi phí rất rẻ hoặc miễn phí.
+ Ví dụ: Học sinh đang gõ dở bài tập nhóm bằng ứng dụng Google Docs trên điện thoại ở nhà, khi đến lớp chỉ cần mượn máy tính của trường, có mạng là mở ra gõ tiếp được ngay mà không cần mang theo USB copy dữ liệu.